Skip links

Tư duy lãnh đạo phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Sự cải thiện về mức sống, hạnh phúc, và niềm tin của các tầng lớp nhân dân sẽ là những tiêu chí then chốt nhất, phản ánh năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tư duy trước kỷ nguyên mới

Trong tiến trình vận động thường xuyên và liên tục của xã hội loài người, nếu khát vọng phát triển là nhu cầu tất yếu, chính đáng, và đúng đắn thì thực tế lịch sử thế giới cũng gợi ra rằng, một trong những điều kiện đầu tiên để có thể hiện thực hóa khát vọng phát triển là phải liên tục đổi mới tư duy.

Trong cuộc sống hàng ngày, tư duy là hoạt động đặc biệt của con người, sử dụng não bộ và tri thức để nhận diện, mô tả, phân tích, nhận định, đánh giá, suy luận… nhằm phát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng, đặc trưng và quy luật tâm lý – hành vi, trạng thái cũng như các xu hướng vận động của đời sống xã hội. Sản phẩm tư duy rất đa dạng, nhưng quan trọng nhất là những nhận thức mới, ý tưởng mới, mục tiêu mới, lý thuyết và mô hình, khuôn mẫu hành vi hoặc cách thức hành động…

TS. Nguyễn Văn Đáng, Viện Lãnh đạo học và hành chính công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến người khác để cùng hành động vì mục tiêu chung. Vì thế, khác với những tư duy thông thường, tư duy lãnh đạo là kết quả tổng hợp từ những quan sát, mô tả, phân tích, nhận định, đánh giá, đoán định… của chủ thể lãnh đạo về bối cảnh, điều kiện hiện tại, xu hướng vận động của đời sống xã hội, những vấn đề hiện trạng đang không như mong muốn, từ đó xác định những mục tiêu cũng như cách thức, biện pháp lãnh đạo để thực hiện sự thay đổi vì một tương lai tốt đẹp hơn cho nhiều người.

Những sản phẩm điển hình của tư duy lãnh đạo là nhận thức mới, tầm nhìn lãnh đạo mới, cũng như chiến lược hành động và kế hoạch thực hiện. Như vậy, có thể nói, tư duy đúng, được nhiều người ủng hộ là điều kiện đầu tiên để có thể đạt được thành công lãnh đạo.

Ở bất cứ cấp độ nào (nhóm, tổ chức, cộng đồng địa phương, quốc gia…), năng lực tư duy có vai trò đặc biệt quan trọng với hiệu lực lãnh đạo. Chủ thể lãnh đạo với năng lực tư duy tốt và nhạy bén sẽ không chỉ nhận diện vấn đề đúng, xác định mục tiêu hợp lý và khả thi, mà còn có thể truyền cảm hứng, thuyết phục và quy tụ sự ủng hộ cho tầm nhìn lãnh đạo, tạo lập được niềm tin về đích đến chung, được nhiều người chia sẻ, gắn kết mọi người lại với nhau, tạo động lực để cùng hành động hướng đích.

Như vậy, năng lực tư duy và khả năng đổi mới tư duy lãnh đạo sẽ là một trong những yếu tố tiên quyết để có thể khơi gợi, nuôi dưỡng và thúc đẩy nhu cầu thay đổi trong nhận thức và hành động của nhiều người.

Trình bày trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, một trong 05 bài học được nêu ra trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là “không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược; nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; tôn trọng quy luật khách quan, phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ”.

Quả vậy, sau bốn thập kỷ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt những kết quả tích cực nhất định, tạo ra sự thay đổi rõ rệt về mức sống của nhân dân cũng như vị thế của đất nước trên bình diện quốc tế. Tuy nhiên, ở vị trí hiện tại, nếu chúng ta không nâng tầm khát vọng, không quyết tâm bứt phá phát triển thì nguy cơ đất nước bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình là khó tránh khỏi.

Do đó, để có thể thay đổi vị thế quốc gia thì tất yếu và trước hết cần những tư duy lãnh đạo mới. Từ cuối năm 2024, những biểu hiện mới trong tư duy lãnh đạo bắt đầu xuất hiện với những ý niệm về “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, được xác định bắt đầu từ năm 2026.

Trong hai thập kỷ sắp tới, cả hệ thống chính trị cùng nhân dân cả nước sẽ phải cùng chung ý chí và quyết tâm, tư duy sáng tạo và đột phá, và nỗ lực hành động để từng bước thực hiện hai mục tiêu đã được đề ra từ Đại hội XIII: i) đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; ii) đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao. Cho đến hiện nay, chúng ta có thể đồng thuận rằng khả năng hiện thực hóa tầm nhìn lãnh đạo 2030 và 2045 trước hết sẽ phụ thuộc vào tiến trình đổi mới tư duy lãnh đạo phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam.

Lãnh đạo phát triển quốc gia

Trên thực tế, nếu không có khả năng phát triển và đổi mới tư duy lãnh đạo, chủ thể lãnh đạo sẽ có thể bị tụt hậu, không theo kịp với những xu hướng vận động trong xã hội hiện đại. Sự bảo thủ và tụt hậu về tư duy có thể khiến chủ thể lãnh đạo đứng trước nguy cơ không thể vượt qua những thách thức mới, không thể dẫn dắt tập thể đến tương lai tốt đẹp hơn, thậm chí, có thể trở thành rào cản cho sự phát triển của tổ chức, của cộng đồng, của đất nước.

Trong những ngày trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, khái niệm “đổi mới tư duy” được lãnh đạo Đảng và Nhà nước đề cập đến với tần suất cao, nhấn mạnh những thành tựu về đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng và nhu cầu tiếp tục nâng tầm tư duy lãnh đạo phát triển đất nước khi cả dân tộc tiến bước vào kỷ nguyên bứt phá phát triển.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, những quyết tâm và nỗ lực đổi mới tư duy và hành động lãnh đạo phát triển của Đảng sẽ sớm được chuyển hóa thành sự thay đổi tích cực trong đời sống của Nhân dân và vị thế của quốc gia, dân tộc. Ảnh: Hoàng Anh.

Báo cáo của Ban chấp hành trung ương khóa XIII, do Tổng bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV nhận định: nhiệm kỳ XIII đã trải qua “nhiều khó khăn đan xen, nhiều thách thức chồng lấn…chưa bao giờ chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức, nhiều đòi hỏi gay gắt, nhiều sức ép cạnh tranh như lúc này”.

Tuy nhiên, cũng theo Báo cáo “chưa bao giờ nguyện ước về một Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc lại gần với chúng ta như hôm nay”. Vì thế, phân tích tiềm năng và cơ hội của đất nước, khát vọng của nhân dân, Báo cáo tiếp tục khẳng định những quyết tâm chiến lược của Đảng, thể hiện rõ nhất qua hai mục tiêu trăm năm nêu trên.

Trước đó, ngày 6/10/2025, phát biểu khai mạc Hội nghị 13, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm lưu ý: “Nhân dân đang nhìn chúng ta bằng niềm tin và kỳ vọng mới… trách nhiệm của Trung ương là biến kỳ vọng thành hiện thực… biến chủ trương thành dòng chảy trong cuộc sống”.

Phân tích nội dung các văn kiện trình Đại hội XIV thì có thể thấy những nét mới, điểm mới nổi bật về tư duy lãnh đạo phát triển của Đảng: thay vì chỉ tập trung vào thể chế kinh tế, Văn kiện Đại hội XIV mở rộng toàn diện đến các lĩnh vực như văn hóa, xã hội, con người, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị… Nội hàm của phát triển nhanh và bền vững cũng có nhiều điểm mới, trong đó nhấn mạnh nhu cầu bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia.

Hướng tới tương lai, tính chất văn minh và tiến bộ trong tư duy lãnh đạo phát triển của Đảng thể hiện rõ nhất ở việc kiên định quan điểm xây dựng thành công “nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc; đuổi kịp, tiến cùng, sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Thay vì mô hình xã hội tự do tư bản chủ nghĩa, Đảng cộng sản Việt Nam hướng đến mô hình xã hội chủ nghĩa – đó là “xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”.

Tinh thần cốt lõi của tư tưởng xã hội chủ nghĩa là vì con người, vì cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc của mọi người dân. Để tiến đến được đích đó, con người được xác định “giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển”. Mức sống, hạnh phúc, và niềm tin của các tầng lớp nhân dân sẽ là những tiêu chí then chốt nhất, phản ánh năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Quan điểm phát triển trung thành với những giá trị nền tảng của tư tưởng xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là “công bằng xã hội”) không hề bảo thủ, lạc hậu, mà hoàn toàn phù hợp với các triết lý phát triển hiện đại trên thế giới hiện nay. Bởi lẽ, hướng tới tương lai tốt đẹp, nhân loại dễ dàng đồng thuận rằng một quốc gia chỉ thực sự thành công trong tiến trình phát triển nếu đem đến cuộc sống hạnh phúc cho số đông người dân. Để người dân cảm thấy hạnh phúc thì trước hết mỗi cá nhân phải được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cơ bản và tối thiểu.

Tiếp đó, cộng đồng xã hội vận hành dựa trên sự hài hòa lợi ích, tinh thần hợp tác và cùng phát triển giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa chính quyền với người dân. Trong xã hội tốt đẹp đó, con người chung sống hòa bình với thiên nhiên, các nguồn lực tự nhiên được khai thác hợp lý để đáp ứng nhu cầu cho thế hệ hiện tại nhưng không xâm phạm đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ trong tương lai.

Chiến lược hành động

“Không có lực cản nào, không có lý do gì có thể ngăn bước chúng ta vươn tới hòa bình, thịnh vượng, dân tộc ta trường tồn và phát triển” là lời khẳng định của Tổng Bí thư Tô Lâm, vào ngày 2/9/2025, trong bài diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bên cạnh khát vọng cháy bỏng, quyết tâm chính trị, sự tự tin, tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, chúng ta cũng sẽ khó có thể thành công với các mục tiêu phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới nếu thiếu sự “duy lý”, “lý trí” trong hoạch định các chiến lược và kế hoạch hành động.

Từ cuối năm 2024, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều Nghị quyết, được coi là những trụ cột về quan điểm, chủ trương lãnh đạo, định hướng hành động để có thể đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Đáng chú ý trong số đó, Nghị quyết 68 đánh dấu bước ngoặt trong tư duy của Đảng khi coi kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; Nghị quyết 57 xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng và động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới; Nghị quyết 66 khẳng định nhu cầu đổi mới toàn diện công tác xây dựng và thi hành pháp luật, chuyển tư duy từ “quản lý” sang “phục vụ”; Nghị quyết 59 đặt hội nhập quốc tế vào vị trí động lực chiến lược cho phát triển; Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế nhà nước…

Trong lãnh đạo, hoạch định chiến lược là quá trình phân tích tình huống gắn với bối cảnh cụ thể, thực trạng và nguyên nhân của những vấn đề tiềm ẩn, nhận diện các xu hướng vận động, hoạch định kế hoạch hành động dài hạn để đạt được trạng thái tốt đẹp hơn trong tương lai.

Khi hoạch định chiến lược, chủ thể lãnh đạo tập trung vào vấn đề lãnh đạo và các mục tiêu dài hạn trong tương lai, phân tích bối cảnh cấu trúc, đoán định các kết quả và tác động tiềm năng, từ đó đề ra mục tiêu và kế hoạch hành động phù hợp, khả thi.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của tư duy và hành động duy lý, Báo cáo trình Đại hội XIV đã nêu bài học thành công thứ tư, đó là phải “bám sát thực tiễn, dự báo đúng tình hình; phản ứng chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, phù hợp; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm; phân công, phân cấp, phân quyền rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả; kiểm tra, giám sát chặt chẽ; nâng cao chất lượng thể chế; tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”.

Quá trình chuẩn bị và nội dung của các Văn kiện trình Đại hội XIV cũng đã cho thấy Đảng thực sự đổi mới mạnh mẽ trong những định hướng hành động. Cụ thể, 12 định hướng lớn; 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược, và chương trình hành động chi tiết đã được xây dựng để có thể triển khai thực hiện ngay sau Đại hội.

Đáng chú ý nhất, những “đòn bẩy” then chốt cho sự phát triển bứt phá của đất nước trong những năm sắp tới được xác định đúng đắn, bao gồm: đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xác lập mô hình tăng trưởng mới theo hướng coi trọng năng suất và hiệu quả; công tâm trong việc nhận định về vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực…Cùng với đó là yêu cầu “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng”, coi trọng “quản trị thực thi”.

Tin tưởng rằng, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, những quyết tâm và nỗ lực đổi mới tư duy và hành động lãnh đạo phát triển của Đảng sẽ sớm được chuyển hóa thành sự thay đổi tích cực trong đời sống của Nhân dân và vị thế của quốc gia, dân tộc.

Theo The Leader

Leave a comment

Explore
Drag